Lễ Đức Mẹ Dâng Mình Trong Đền Thờ

Và khi Hài Nhi được ba tuổi, ông Gioakim nói: “Hãy mời các trinh nữ Do Thái, những người tinh tuyền, mỗi người cầm một ngọn đèn sáng trong tay; hãy để họ đứng chung quanh với đèn cháy sáng, để Hài Nhi không ngoái lại, và lòng con bé khỏi bị thu hút khỏi Đền Thờ của Chúa.” Và họ đã làm như thế cho đến khi tiến vào Đền Thờ của Chúa.
Vị tư tế đón lấy Hài Nhi, ôm hôn và chúc phúc cho bé, mà nói rằng: “Chúa đã làm cho danh con nên cao cả qua mọi thế hệ. Nơi con, vào thời sau hết, Chúa sẽ tỏ bày ơn cứu chuộc Người dành cho con cái Israel.” Rồi người đặt bé đứng trên bậc thứ ba của bàn thờ, và Thiên Chúa tuôn đổ ân sủng xuống trên bé; và bé nhảy múa trên đôi chân nhỏ, khiến toàn thể nhà Israel đều yêu mến bé.
Cha mẹ bé xuống núi mà khâm phục và chúc tụng Thiên Chúa, vì Hài Nhi đã không ngoái nhìn lại. Và Maria ở trong Đền Thờ của Chúa như chú chim bồ câu làm tổ nơi đó, và bé được nuôi dưỡng bởi chính tay một thiên thần.
(Nguồn: Tin Mừng Tiền Phúc Âm của Thánh Giacôbê)
SUY NIỆM
Có ba tác phẩm ngụy thư được cho là đã ảnh hưởng sâu đậm đến lễ kính hôm nay: Tin Mừng Tiền Phúc Âm của thánh Giacôbê (Protoevangelium of James), Tin Mừng Ngụy Matthêu (Gospel of Pseudo-Matthew), và Tin Mừng Giáng Sinh của Đức Maria (Gospel of the Nativity of Mary). Trong số đó, bản văn sớm nhất là Tin Mừng Tiền Phúc Âm của thánh Giacôbê (Protoevangelium of James), bản văn này rất có thể được biên soạn vào thế kỷ II. Các tác phẩm ngụy thư vừa kể trên không phải là tác phẩm Lời Chúa được linh hứng, vì không được chứng thực là do Tông đồ Giacôbê viết. Tuy nhiên, giống như nhiều tài liệu Kitô giáo sơ khai khác, sách này có ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống Hội Thánh thời đầu. Theo truyền thống, tên của song thân Đức Maria, thánh Gioakim và thánh Anna cũng xuất phát từ đây, vì đây là bản văn duy nhất ghi lại tên các ngài.
Tin Mừng Tiền Phúc Âm của thánh Giacobê thuật lại đời sống Đức Maria rất chi tiết về ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội, biến cố Giáng sinh, việc dâng Mẹ vào Đền Thờ, cùng đời sống của Mẹ nơi đó. Tác phẩm thuật lại Mẹ chuyên chăm cầu nguyện và được thiên thần phục vụ cho đến năm mười hai tuổi. Bản văn cũng kể việc Mẹ được chỉ định cách nhiệm lạ để kết hôn với Thánh Giuse, việc Chúa Giêsu giáng sinh, cuộc gặp gỡ của Hêrôđê với các đạo sĩ, biến cố sát hại các thánh Anh Hài, và cái chết tử đạo của ông Dacaria, thân phụ Gioan Tẩy Giả. Tuy không trái nghịch với các tác phẩm quy điển nhưng bản văn chứa đựng nhiều chi tiết mà có thể là những biến cố có thật.
Tác phẩm Tiền Phúc Âm của thánh Giacôbê mô tả vào thời Đức Maria chào đời, không hiếm trường hợp trẻ nhỏ được dâng vào Đền Thờ để sống ở đó và phục vụ. Các em hỗ trợ các tư tế và đảm nhận những việc bác ái. Dù theo luật Môsê, các bé trai đầu lòng được dâng cho Chúa sau khi sinh được tám ngày. Đôi khi bé gái cũng được dâng nhưng với mục đích phục vụ trong Đền Thờ. Thánh Anphongsô Ligôri, Tiến sĩ Hội Thánh thế kỷ XVIII, trong tác phẩm “Vinh Quang Đức Maria” mô tả lễ Dâng Đức Mẹ rất hòa hợp với các bản văn ngụy thư trên như sau: “Vừa tròn ba tuổi, thánh Nhi Maria xin song thân thực hiện lời khấn dâng mình cho Chúa nơi Đền Thờ. Khi ngày đã đến, trinh nữ tinh tuyền rời Nadarét với thánh Gioakim và thánh Anna, được cả đoàn thiên thần tháp tùng... Đến Giêrusalem, bé Maria quỳ xuống, hôn tay cha mẹ, xin các ngài chúc lành, rồi không ngoái đầu lại, bé tiến lên các bậc thang Đền Thờ. Tại đó, bé từ bỏ thế gian, hiến dâng trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa… Từ lúc ấy, đời sống của Maria là một hành trình yêu mến không ngừng, dâng hiến trọn vẹn xác hồn cho Thiên Chúa… Như một trinh nữ trong Đền Thờ, Mẹ chỉ biết cầu nguyện và ước ao được phục vụ người trinh nữ được chọn làm Mẹ Thiên Chúa.”
Người ta tin rằng lễ này có nguồn gốc trong phụng vụ Đông phương Byzantine khoảng thế kỷ VI, khi Hoàng đế Justinianô I xây một đền thờ ở Giêrusalem, gần nền Đền Thánh xưa, gọi là Vương Cung Thánh Đường Đức Maria Mới. Đến thế kỷ IX, một số đan viện trong Giáo Hội Latinh bắt đầu mừng lễ, và đến thế kỷ XV, lễ được ghi vào lịch phụng vụ toàn thể Hội Thánh.
Năm 1953, Đức Giáo hoàng Piô XII gắn liền lễ Dâng Đức Maria với Ngày Thế Giới cầu nguyện cho đời sống đan tu chiêm niệm, vì ngài tin rằng Đức Maria không chỉ được dâng vào Đền Thờ, mà còn sống tuổi thơ trong thinh lặng, chiêm niệm và cầu nguyện như mẫu gương tuyệt hảo của đời sống chiêm niệm.
Năm 1974, trong Tông huấn Marialis Cultus, Đức Phaolô VI giải thích về những lễ kính dựa phần nào trên các nguồn không quy điển như hôm nay: “Dù mang nội dung ngụy thư, nhiều lễ kính ấy lại diễn tả những giá trị cao quý và những truyền thống rất đáng kính, nhất là đến từ Giáo Hội Đông phương.”
Mừng lễ Đức Mẹ Dâng Mình hôm nay, Hội Thánh kỷ niệm đời sống chiêm niệm sâu xa của Đức Maria ngay từ thuở thiếu thời cho đến suốt cuộc đời Mẹ. Dù không chắc chắn về mọi chi tiết lịch sử, nhưng một sự thật thiêng liêng vẫn không thể chối cãi, đó là: Mẹ là Đấng Vô Nhiễm, là Hiền Thê của Chúa Thánh Thần, là mẫu gương của những người sống đời chiêm niệm, và là người hiến dâng hoàn toàn cho thánh ý Thiên Chúa.
Mỗi lần chiêm ngắm biến cố Đức Maria Dâng Mình trong Đền Thờ lần mỗi lần người tu sĩ chúng ta được mời gọi chiêm ngắm lại căn tính và ơn gọi tận hiến của mình. Như Đức Mẹ đã can đảm bước lên những bậc thang của Đền Thánh, không ngoái lại phía sau khi vừa tròn ba tuổi, người sống đời thánh hiến chúng ta cũng được mời gọi sống tinh thần “không ngoái lại”, buông mình cho kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, sẵn sàng để Người dẫn đi dù con đường có thể không mấy trơn tru hay sứ vụ còn đầy gian nan vất vả. Như Mẹ đã sống những năm tháng trong Đền Thờ bằng đời sống cầu nguyện, thinh lặng, lao tác khiêm hạ và liên lỉ lắng nghe tiếng Chúa, thì người tu sĩ cũng được mời gọi xây dựng “Đền Thờ nội tâm” bằng những thực hành thiêng liêng vững bền: trung thành với giờ cầu nguyện chung và riêng, chuyên chăm suy niệm Lời Chúa, để cho thánh ý Chúa trở thành lương thực nuôi dưỡng mỗi lựa chọn và công việc hằng ngày của chúng ta.
Sống theo gương Mẹ Dâng Mình là mỗi ngày làm mới lại lời “xin vâng”, bước đi với tâm hồn đơn sơ, và hiến dâng trọn vẹn đời mình cho Thiên Chúa, Đấng đã gọi và luôn trung tín với lời hứa của Người. Quả thực, đời tu là một hành trình theo sát Chúa, và chỉ có thể cảm thấy được sự “thuộc về” trọn vẹn khi mỗi lần sống và lặp lại lời giao ước : “Con tự nguyện theo sát Chúa Ki tô, tận hiến đời con để làm vinh danh Thiên Chúa, thánh hóa bản thân và loan báo Tin Mừng của Chúa cho mọi người.”
Nguồn: My Catholic Life
Bản dịch và liên hệ: Cecilia, MRP